Văn mẫu lớp 11

Phân tích bài “Lưu biệt khi xuất dương” của Phan Bội Châu

Em hãy phân tích bài “Lưu biệt khi xuất dương” của Phan Bội Châu

Bài làm

Phan Bội Châu được biết đến là một trong những chí sĩ yêu nước đầu tiên của nước ta đã mở ra con đường cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản. Mặc dù sự nghiệp không thành, nhưng ông mãi mãi là tấm gương sáng chói về lòng yêu nước thiết tha và đấu tranh kiên cường, bất khuất. Vào năm 1904, ông cùng các đồng, chí của mình lập ra Duy Tân hội. Năm 1905, hội chủ trương phong trào Đông Du, đưa thanh niên ưu tú sang Nhật Bản để chuẩn bị lực lượng nòng cốt cho cách mạng và tranh thủ sự giúp đỡ của các thế lực bên ngoài. Trước lúc lên đường, thì Phan Bội Châu làm bài thơ “Xuất dương lưu biệt” để bày tỏ cảm xúc khi phải từ giã bạn bè, đồng chí:

Phiên âm chữ Hán:
Sinh vi nam tử yếu hi kì,
Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di.
Ư bách niên trung tu hữu ngã,
Khởi thiên tải hậu cảnh vô thùy.
Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế,
Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si!
Nguyện trục trường phong Đông hải khứ,
Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi.

Dịch thơ:

Làm trai phải lạ ở trên đời,
Há để càn khôn tự chuyển dời.
Trong khoảng trăm năm cần có tớ,
Sau này muôn thuở, há không ai?
Non sông đã chết, sống thêm nhục,
Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài!
Muốn vượt bể Đông theo cánh gió,
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.

Với một giọng thơ tâm huyết có sức lay động mạnh mẽ, Lưu biệt khi xuất dương đã khắc họa vẻ đẹp lãng mạn hào hùng của nhà chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu. Nhà chí sĩ cách mạng với tư tưởng mới mẻ, táo bạo, bầu nhiệt huyết sôi trào và cháy bỏng trong buổi ra đi tìm đường cứu nước. Bài thơ mở đầu bằng việc khẳng định chí làm trai trong trời đất.

Làm trai phải lạ ở trên đời,
Há để càn khôn tự chuyển dời.

Câu thơ chữ Hán đặc sắc “Sinh vi nam tử yếu hi kì’. Có thể thấy hai từ “hi kì” có nghĩa là hiếm, lạ, khác thường cần được hiểu như những từ nói về tính chất lớn lao, trọng đại, kì vĩ của những công việc mà kẻ làm trai phải gánh vác trọng trách trên đôi vai của mình. Và đây cũng được xem là lí tưởng nhân sinh của các nhà Nho thời phong kiến. Trước Phan Bội Châu, nhiều người đã đề cập đến chí làm trai trong thơ ca. đời Trần ông cũng đã từng băn khoăn “Công danh nam tử còn vương nợ, Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu” (Tỏ lòng). Trong bài “Đi thi tự vịnh’ tác giả cũng đã khẳng định “Đã mang tiếng ở trong trời đất, Phải có danh gì với núi sông”…

Xem thêm:  Đề thi HSG Ngữ văn 6 của trường THCS Quỳnh Châu 2013-2014

Và có thể thấy chí làm trai của Phan Bội Châu thuyết phục thời bấy giờ ở sự táo bạo, quyết liệt và cảm hứng lãng mạn nhiệt thành và thật bay bổng.Ở Phan Bội Châu làm trai là phải làm được những điều lạ, tức những việc hiển hách phi thường. Có thể nói câu thơ thứ nhất khẳng định điều đó. Còn trong câu thơ thứ hai mang ngữ điệu cảm thán bổ sung cho ý của câu thứ nhất là kẻ làm trai phải can dự vào việc xoay chuyển càn khôn, và phải biến đổi thời thế chứ không phải chỉ giương mắt ngồi nhìn thời cuộc đổi thay, an phận thủ thường, chấp nhận mình là kẻ đứng ngoài. Ta có thể nhận thấy chí làm trai của Phan Bội Châu đã vượt hẳn lên trên cái mộng công danh xưa nay thường gắn liền với tam cương, ngũ thường của Nho giáo để vươn tới lí tưởng xã hội rộng lớn và cao cả hơn nhiều.

luu biet khi xuat duong - Phân tích bài "Lưu biệt khi xuất dương" của Phan Bội Châu

Cái cảm hứng và ý tưởng hợp thời đại đó phần nào xuất phát từ lí tưởng trí quân, trạch dân của các nhà Nho thuở trước nhưng tiến bộ hơn vì mang tính chất cách mạng. Theo quy luật của tự nhiên, con tạo xoay vần vốn là lẽ thường tình, nhưng Phan Bội Châu ôm ấp khát vọng chủ động xoay chuyển càn khôn, chứ không để cho nó tự chuyển vần. Cũng có nghĩa là ông không chịu khuất phục trước số phận, trước hoàn cảnh. Và dường như lí tưởng tiến bộ ấy đã tạo cho nhân vật trữ tình trong bài thơ một tầm vóc lớn lao, một tư thế hiên ngang, ngạo nghễ thách thức với càn khôn.

Hai câu thực đã như thể hiện ý thức về trách nhiệm cá nhân của nhà thơ, cũng là nhà cách mạng tiên phong trước cuộc đời:
Trong khoảng trăm năm cần có tớ,
Sau này muôn thuở, há không ai ?

Câu thứ ba trong bài thơ không chỉ đơn giản xác nhận sự có mặt của nhân vật trữ tình ở trên đời mà còn hàm chứa một tâm niệm là một sự hiện diện của ta không phải là một sự kiện ngẫu nhiên, vô ích; vì vậy, ta phải làm một việc gì đó lớn lao, hữu ích cho đời. Và cả câu thứ tư có nghĩa là ngàn năm sau, lẽ nào, chẳng có người nối tiếp công việc của người đã đi trước. Dường như “Cái tôi công dân” của tác giả đã được đặt ra giữa giới hạn trăm năm của đời người và ngàn năm của lịch sử. Sự khẳng định cần “có tớ” ở đây không phải với mục đích hưởng lạc mà là để cống hiến cho đáng mặt nam nhi và lưu danh hậu thế. Câu hỏi tu từ là một biện pháp nghệ thuật cũng là một cách khẳng định mãnh liệt hơn khát khao cống hiến và nhận thức đúng đắn của tác giả đó chính là lịch sử là một dòng chảy liên tục và liền mạch cần có sự góp mặt và gánh vác của nhiều thế hệ nối tiếp nhau. Và dễ nhận thấy trong bốn câu thơ đầu, những hình ảnh kì vĩ của thiên nhiên như càn khôn, trăm năm, muôn thuở đã thể hiện cảm hứng lãng mạn bay bổng, chính là cội nguồn sức mạnh của nhân vật trữ tình.

Xem thêm:  Nêu cảm nghĩ về nhân vật Lượm trong bài thơ cùng tên của Tố Hữu

Ở những năm đầu thế kỉ XX, sau khi mà thất bại liên tiếp của các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp thì dường như một nỗi bi quan, thất vọng đè nặng lên tâm hồn những người Việt Nam yêu nước. Và tâm lí an phận thủ thường như được lan rộng. Trước tình hình thực tế đó, bài thơ ‘Lưu biệt khi xuất dương” dường như có ý nghĩa như một hồi chuông thức tỉnh lòng yêu nước, động viên mọi người đứng lên chống giặc ngoại xâm.

Trong hai câu luận, Phan Bội Châu đặt chí làm trai vào hoàn cảnh thực tế của lịch sử đương thời:

Non sông đã chết, sống thêm nhục,
Hiền thánh còn đâu học cũng hoài.

Và thật dễ nhận lẽ nhục – vinh mà tác giả đặt ra gắn liền với sự tồn vong của đất nước và dân tộc ‘Non sông đã chết, sống thêm nhục”. Và dường như ý nghĩa của nó đồng nhất với của “Chết vinh còn hơn sống nhục” cuối thế kỉ XIX.

Câu thơ thứ 5 trong bài thơ dường như đã bày tỏ một thái độ dứt khoát, được thể hiện bằng ngôn ngữ đậm khẩu khí anh hùng, bằng sự đối lập giữa sống và chết. Đó chính là một sự khí tiết cương cường, bất khuất của những không cam chịu cuộc đời nô lệ tủi nhục. Nhận thấy ý thơ thật mới mẻ mang tính chất cách mạng. Ở câu thứ 6 trong bài tác giả Phan Bội Châu đã thẳng thắn bày tỏ ý kiến trước một thực tế chua xót là ảnh hưởng của nền giáo dục Nho giáo đối với tình cảnh nước nhà lúc bấy giờ. Dường như sách vở thánh hiền lại như vô ích vì nó chẳng giúp ích được gì trong buổi nước mất nhà tan. Và vì thế mà nếu như cứ khư khư theo đuổi thì chỉ hoài công vô ích mà thôi. Và phải khẳng định Phan Bội Châu chưa hoàn toàn phủ nhận cả nền học vấn Nho giáo. Nhưng ông đã táo bạo đưa ra một nhận định như thế thì quả là táo bạo đối với một người từng là đệ tử của chốn cửa Khổng sân Trình. Có thể nói dũng khí và nhận thức sáng suốt đó trước hết bắt nguồn từ lòng yêu nước thiết tha và khát vọng như đến cháy bỏng muốn tìm ra con đường đi mới để đưa nước nhà thoát khỏi cảnh nô lệ lầm than. Tác giả Phan Bội Châu cho rằng nhiệm vụ thiết thực trước mắt là cứu nước cứu dân trước, là Duy tân, tức là học hỏi những tư tưởng cách mạng mới mẻ và tiến bộ. Bài thơ không đơn thuần là chỉ để bày tỏ ý chí mà thực sự là một cuộc lên đường của nhân vật trữ tình:

Xem thêm:  Nghị luận về văn hóa ứng xử

Muốn vượt bể Đông theo cánh gió,
Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.

Có thể thấy các hình ảnh kì vĩ trong hai câu kết mang tầm vũ trụ: bể Đông, cánh gió, muôn trùng sóng bạc. Dường như tất cả như hòa nhập làm một với con người trong tư thế bay lên.

Thật không dễ nhận thấy sức thuyết phục, lôi cuốn của bài thơ chính là ở ngọn lửa nhiệt tình đang bừng cháy trong lòng nhân vật trữ tình. Bài thơ dường như đã thể hiện hình tượng người anh hùng trong buổi quyết đi lên đường xuất dương lưu biệt với tư thế kì vĩ, sống ngang tầm vũ trụ. Và những người anh hùng ấy ý thức rất rõ ràng về “cái tôi công dân” và luôn khắc khoải, day dứt trước sự tồn vong của quốc gia, dân tộc.
Bài thơ đặc sắc ‘Lưu biệt khi xuất dương’ đã được viết theo bút pháp ước lệ và cường điệu, rất phù hợp với mục đích cổ vũ, động viên. Với một giọng thơ vừa sâu lắng, da diết, vừa sôi sục, hào hùng, mang âm hưởng tráng ca. Và những nỗi đau đớn, niềm lạc quan, nhiệt tình cùng với một tư tưởng cách mạng đã thổi hồn vào từng câu, từng chữ, từng hình ảnh trong bài thơ. Thêm vào đó là âm hưởng hào hùng của bài thơ có sức lay động, thức tỉnh rất lớn đối với mọi người. Đây là một bài thơ từ biệt nhưng thực chất cũng là lời kêu gọi, thúc giục lên đường. Tầm vóc bài thơ đã tạo dựng được hoàn toàn tương xứng với tầm vóc của một con người được cả dân tộc ngưỡng mộ và tin tưởng.

Post Comment