Phân tích bài “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi

Phân tích bài “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi
4.9 (98.64%) 499 đánh giá

Đề thi: Anh chị hãy phân tích bài “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi

Bài làm

Loading...

Nguyễn Trãi là bậc anh hùng dân tộc, một nhân vật toàn tài hiếm có nhưng lại là người phải chịu những oan khiên tàn khốc dưới thời phong kiến. Ông là nhà thơ, nhà văn kiệt xuất có những tác phẩm vô cùng nổi tiếng như Ức Trai thi tập, Chí Linh sơn phú, Lam Sơn thực lục… trong số đó tác phẩm tôi thích nhất là Bình Ngô Đại Cáo. Bài Cáo có ý nghĩa trọng đại như một bản tuyên ngôn, tố cáo kẻ thù xâm lược và ca ngợi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

Cáo là thể văn nghị luận có từ thời cổ ở Trung Quốc, thường được vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng để trình bày một chủ trương, một sự nghiệp, tuyên ngôn một sự kiện để mọi người cùng biết.

binh ngo dai cao

Bài Cáo của nhà thơ Nguyễn Trãi gồm bốn phần. Phần một tác tác giả đã khẳng định tư tưởng, nhân nghĩa và chân lí độc lập dân tộc của Đại Việt. Đoạn hai, tố cáo, lên án tội ác của giặc Minh. Đoạn ba, kể diễn biến của các cuộc chiến từ lúc mở đầu đến thắng lợi hoàn toàn, đề cao sức mạnh của tư tưởng nhân nghĩa và sức mạnh của lòng yêu nước kết tinh thành cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Đoạn bốn, lời tuyên bố độc lập và rút ra bài học lịch sử.

Mở đầu bài Cáo tác giả không chỉ đưa ra một chân lí về chính nghĩa và còn nêu ra chân lí khách quan về sự tồn tại độc lập, có chủ quyền chắc chắn từ lịch sử:

                   “ Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

                       Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.”

“Nhân nghĩa” là mối quan hệ giữa người với người trên quan hệ tình thương và đạo lý. Nhân nghĩa là yên dân trừ bạo, “yên dân” dân sống yên lành, hạnh phúc trong một Đất nước độc lập, “trừ bạo” diệt trừ kẻ tàn bạo xâm lược đất nước và bọn tham tàn trong nước. Vậy cái cốt lõi của tư tưởng nhân nghĩa chính là lấy dân làm gốc, vì dân mà diệt trừ tham tàn bạo ngược, bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân. Vì vậy nhân dân ta chiến đấu chống quân xâm lược là nhân nghĩa, là phù hợp với nguyên lí chính nghĩa. Những yếu tố  đã được Nguyễn Trãi đưa ra để xác định độc lập chủ quyền của dân tộc bao gồm: tên nước, nền văn hiến lâu đời, lãnh thổ, danh giới, phong tục tập quán, lịch sử các triều đại Triệu, Đinh, Lí ,Trần, truyền thống anh hùng. Tất cả đều là những căn cứ chắc chắn trong thực tế lịch sử không thể trối cãi. Để khẳng định quyền tự do, độc lập , tác giả đã dùng những lời lẽ lập luận đầy tính chất tự nhiên, vốn có “ từ trước, vốn xưng, đã lâu, đã chia, cũng khác”, thể hiện niềm tự hào về tư cách độc lập, tự hào về truyền thống vẻ vang của dân tộc. Tiếp theo đó tác giả đưa ra các dẫn chứng về thực tế lịch sử:

                 “ Lưu Cung tham công nên thất bại,

                    Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong…

Lưu Cung, Triệu Tiết, Toa Đô, Ô Mã là những tướng giặc cầm quân xâm lược nước ta, đều bị thất bại nhục nhã. Qua đó, càng khẳng định sức mạnh chính nghĩa của dân tộc, càng tự hào hơn về dân tộc anh hùng.

Không thể tha thứ cho tội ác của giặc:

                    “ Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,…

                       Quân cuồng Minh thừa cơ gây họa,”

Tác giả đã tố cáo những âm mưu , tội ác của giặc Minh. Lợi dụng cớ nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần, để mang quân vào xâm lược nước ta, khiến lòng dân oán hận vô cùng:

                       “ Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

                          Vùi con đỏ dưới hầm tai vạ,…

                           Ai bảo thần dân chịu được”

Chúng tàn sát, giết hại người vô tội, hủy hoại con người bằng hành động diệt chủng, bóc lột nhân dân, vơ vét của cải “ nặng thuế khóa sạch không đầm núi”, hủy hoại cả môi trường, tội ác của chúng không sách vở nào có thể ghi hết. Giọng văn khi uất hận trào sôi, khi cảm thương tha thiết, tác giả đã đứng về quyền sống của nhân dân vô tội để tố cáo, lên án tội ác của giặc Minh, bảo vệ quyền sống cho nhân dân.

Đất nước ta quân thù xâm lược, dân chúng oán hận lầm than, anh hùng đứng lên khởi nghĩa:

                          “ Núi Lam Sơn dấy nghĩa,…

                             Chính lúc quân thù đương mạnh.”

Tác giả đã khắc họa hình ảnh Lê Lợi vì nước, vì dân, “ ngẫm, căm giặc nước, đau lòng nhức óc, quên ăn, trằn trọc, băn khoăn… người lãnh tụ nghĩa quân căm thù giặc sâu sắc, nung nấu hoài bão lớn tiêu diệt kẻ thù để cứu nước, cứu dân. Nhưng có nhiều khó khăn đang chờ, thiếu lương thực, thiếu quân, thiếu nhân tài, khó khăn càng chồng chất khó khăn, làm sao để đấu lại kẻ thù hung hăng tàn bạo. Nhưng không vì thế mà anh hùng bỏ cuộc, gắng sức khắc phục gian nan.  Nhân dân bốn cõi một nhà, cùng đoàn kết lại chống giặc, giơ cần trúc làm cờ, tướng sĩ một lòng đánh giặc, thế trận xuất kì, sử dụng chiến thuật lấy yếu chống mạnh, đánh bất ngờ, nhanh gọn tiêu diệt giặc. Qua hình tượng Lê Lợi, tác giả đã khắc họa  được ý chí quyết tâm chống ngoại xâm, tinh thần đoàn kết đồng lòng vượt qua khó khăn của dân tộc trong thời đại chống ngoại xâm. Ta dùng nhân nghĩa để thắng hung tàn, lấy ý trí để thắng cường bạo, đã làm bọn giặc khiếp sợ, “ nghe hơi mà mất vía” ,” nín thở cầu thoát thân” kết cục bi thảm của những tướng giặc ham sống sợ chết, tất cả đều hèn nhát, đều thất bại thảm hại, càng làm bật lên khí thế hào hùng và thắng lợi vẻ vang và bản chất nhân đạo của cuộc khởi nghĩa.

Quân ta càng hăn tiến quân ra Bắc : trận Tây Kinh, Đông Đô, Ning Kiều, Tốt Động. Diệt chi viện: trận Chi Lăng, Mã Yên, Xương Giang làm kẻ thù tan tác.

Trong đoạn cuối giọng văn chuyển sang trầm lắng, tự hào, bởi đó là những lời tổng kết lịch sử mang đậm suy tư, tuyên bố chấm dứt chiến tranh khẳng định nền độc lập thái bình. Trong lời tuyên bố được lập lại, tác giả đồng thời rút ra bài học lịch sử, đó là quy luật của trời đất, quy luật suy vong hưng thịnh của mỗi quốc gia. Vì thế sự vững bền khi đã được xây dựng trên cơ sở phục hưng dân tộc, thì vĩnh viễn cảnh đất nước chắc chắn sẽ tươi sáng, huy hoàng. Trong lời tuyên ngôn độc lập, cảm hứng về độc lập dân tộc và tương lai đất nước đã hòa quyện với cảm hứng về vũ trụ  khi “ bĩ” khi “ hối” nhưng quy luật là hướng tới sự tươi sáng, phát triển, càng phác họa sâu đậm niềm tin và quyết tâm xây dựng lại đất nước của nhân dân ta.

Bố cục chặt chẽ, cân đối, câu văn, giọng văn linh hoạt, hình tượng phong phú. Bài cáo đã khái quát được quá trình chiến tranh gian lao nhưng vô cùng anh dũng của dân tộc, tác giả đề cao sức mạnh của lòng yêu nước và tư tưởng nhân nghĩa, ca ngợi cuộc kháng chiến anh hùng của dân tộc, và lòng tự hào dân tộc sâu sắc.

Ứng dụng VĂN MẪU TỔNG HỢP trên điện thoại với hơn 30k bài văn mẫu hay nhất, giải bài tập SGK, soạn văn đầy đủ chi tiết. Hãy tải App ngay để chúng tôi phục vụ bạn tốt hơn nhé!

Nếu thấy bài viết hay, hãy động viên và chia sẻ ban biên tập! Các bình luận không phù hợp sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.

Loading...