Tuyệt chiêu học văn hiệu quả

1. Chăm chỉ đọc báo, xem thời sự

Không chỉ với đề văn Nghị Luận Xã Hội, ngay cả những dạng đề nghị luận văn học, bạn cũng rất cần những kiến thức thực tế ở phạm vi rộng. Nếu chỉ viết lý thuyết suông, những thứ giáo điều và khô cứng, bạn chắc chắn không thể đạt điểm cao. Để ghi điểm với người chấm thi, bạn cần thể hiện rằng mình am hiểu nhiều lĩnh vực khác nhau, luôn biết cách cập nhật tin tức đời sống chứ không chỉ dừng lại ở việc mơ mộng cùng những trang sách. Tuy nhiên, để đảm bảo tính chính xác và xác thực cho thông tin đưa ra, bạn nên kiểm chứng thông tin một cách cẩn thận trước khi đưa vào bài viết.

Tuyệt chiêu học văn hiệu quả

2. Sưu tầm lịch

Trên những tờ lịch ngày treo ở phòng khách mỗi nhà, bạn đều có thể tìm thấy những câu trích dẫn từ những tác phẩm nổi tiếng, những câu nói của các tác giả lớn trong và ngoài nước. Bạn hoàn toàn có thể đưa chúng vào trong bài viết của mình để làm tăng độ tin tưởng cho những dẫn chứng bạn đưa ra. Những câu nói được đúc kết từ nhiều năm tháng kinh nghiệm đó có giá trị hơn nhiều dòng văn vu vơ bạn viết trong tình trạng “không biết viết gì” đấy nhé!

3. Sử dụng sơ đồ cây

Đừng nghĩ rằng chỉ những môn học thuộc lòng mới cần đề sơ đồ cây. Bạn chắc chắn có thể áp dụng nó để học văn đấy nhé! Tất nhiên là không thể “bê nguyên si” và chép đi chép lại lời văn của cô giáo hay của bài văn mẫu để thuộc. Bạn nên dùng sơ đồ cây để học dàn ý. Ý chính nằm ở giữa, các ý phụ ý nhỏ hơn sẽ là những nhánh cây đâm ra.

Văn học là môn thiên về cảm xúc nhưng nếu bài viết của bạn rất tình cảm song… thiếu ý, bạn cũng không thể được điểm cao. Trước khi nghĩ đến chuyện bay bổng, hãy đảm bảo rằng bài viết của mình đi đúng hướng đã nhé!

Tuyệt chiêu học văn hiệu quả
Tuyệt chiêu học văn hiệu quả

4. Biến mình thành người nổi tiếng

Gợi ý này chỉ nên được áp dụng nếu có sự góp mặt của cả hai yếu tố. Bạn có khả năng sáng tạo ra những câu nói… chết người, nghĩa là có sức nặng nghìn hoặc… trăm cân. Bạn không thể nhớ bất kì câu nào của người nổi tiếng nhưng vẫn muốn bài văn của mình có sức nặng như gợi ý số 2.

Hãy đưa câu nói của chính bạn vào ngoặc kép và viết cẩn trọng rằng “Có ai đó đã nói rằng…”. Đừng nhớ mang máng câu nói của người khác và “mở tung” ngoặc kép biến nó thành của mình nhé. Trừ khi bạn muốn mình bị trừ điểm thậm tệ vì tội… vi phạm bản quyền.

5. Trở thành một blogger

Ở đây chẳng ai đòi hỏi bạn trở thành một blogger nổi tiếng cả. Chỉ cần mỗi ngày hay mỗi tuần, bạn cho “ra lò” một bài viết nào đó xoay quanh trong cuộc sống của bạn. Có thể đó là một bài bình luận về bài hát của ca sĩ A hay nhóm nhạc B. Cũng có thể cho bạn mặc sức “tung phá” nhiều đề tài khác về món ăn bạn vừa được thưởng thức ngày hôm nay chẳng hạn…

Việc viết lách trên blog hay Facebook sẽ khiến tài viết lách, sử dụng câu cú của bạn trở nên cứng cáp và trôi chảy hơn. Đôi khi những người bạn của bạn sẽ cảm thấy thích bởi loạt bài viết của bạn trên mạng nữa cơ đấy.

Thánh Gióng về trời tâu với Ngọc Hoàng công việc mình làm dưới trần gian

Đề bài:

Thánh Gióng về trời tâu với Ngọc Hoàng công việc mình làm dưới trần gian, sau khi đánh tan giặc Ân.

Bài làm:

Đánh tan giặc Ân, từ đỉnh Sóc Sơn, hướng về làng Phù Đổng, từ biệt mẹ, từ biệt quê hương, Thánh Gióng phi ngựa sắt bay về trời. Vừa đến cổng trời, Thánh Gióng đã thấy Ngọc Hoàng ngồi trên ngai vàng uy nghi. Hai bên là hai hàng chư thần chư tướng lẫm liệt oai nghiêm.

Giống quỳ trước bệ rồng, tâu:

– Hạ thần xin kính chúc Ngọc Hoàng vạn vạn tuế! Xin cho thần được tâu bày những việc đã làm dưới trần gian.

– Trẫm miễn lễ! Khanh hãy bình thân và hãy kể lại cho trẫm và đình thần nghe những việc đó.

Thánh Gióng đứng dậy và bắt đầu “bản tấu miệng” (Thời ấy, cả trên thiên đình lẫn dưới mặt đất đều chưa có giấy viết, chữ viết):

– Muôn tâu Ngọc Hoàng! Từ khi được Ngọc Hoàng sai xuống trần gian đầu thai để giứp dân trừ nạn, thần đã đi từ làng này sang xã khác, nhưng vẫn chưa tìm được người ưng ý. Một hôm, đến làng Phù Đổng, thần thấy dân nói nhiều đến vợ chồng ông lão phúc hậu, chăm làm ở đầu làng. Ngày ngày, vợ ông lão ra đồng trồng cấy, còn ông lão thì lên rừng kiếm củi. Lúc rỗi rãi, hai vợ chồng lại đi thăm mọi người, sấn sàng giúp đỡ những người ốm đau, hoạn nạn. Vì thế, dân làng rất quý mến. Tuy phúc hậu, nhưng vợ chồng ông lão đã sáu mươi tuổi rồi mà vẫn chưa có một mụn con. Nghe vậy, thần vui mừng khôn xiết. Biết chắc là sáng hôm đó, bà lão sẽ ra đồng làm việc, thần liền biến thành một vết chân to, khúc thường. Quả nhiên, một lúc sau, bà lão đã ra đồng làm việc. Bà ngạc nhiên khi nhìn thấy vết chân đố. Ngẫm nghĩ một lúc, không hiểu sao, bà đặt bàn chân mình lên ướm thử xem hơn kém bao nhiêu. Sau buổi đó, bà thụ thai. Ngày tháng qua đi một cách nhanh chóng, kể từ hôm đó đã hai mươi tháng rồi.

Thánh Gióng về trời tâu với Ngọc Hoàng công việc mình làm dưới trần gian
Thánh Gióng về trời tâu với Ngọc Hoàng công việc mình làm dưới trần gian

 

Vào một buổi sáng mùa xuân mát mẻ, bà lão sinh ra một đứa con trai khôi ngô, bụ bẫm. Đứa bé đó chính là thần. Bố mẹ thần sung sướng. Bà con hàng xóm cũng kéo đến chia vui. Nhưng rồi, một nỗi lo âu đến với mọi người. Đã ba tuổi rồi mà thần vẫn chưa biết nói biết cười và cũng chẳng biết đi. Lo buồn, nhưng không ai ghét bỏ thần. Mọi người vẫn thương yêu thần như trước.

Bấy giờ, giặc Ân sang xâm chiếm bờ cõi nước Việt. Sức giặc rất mạnh. Vua Việt lo sợ, dân chúng hoảng loạn. Ngọn lửa quân giặc đốt, bốc cháy ngút trời. Chúng đi đến đâu là đốt sạch và tàn bạo hơn, giết sạch cả cụ già, em nhỏ. Chúng để lại sau là những tiếng khóc thảm thiết. Trước tình cảnh đó, vua nước Việt cho sứ giả đi khắp nơi tìm người tài giỏi cứu dân, cứu nước.

Một hôm, nghe tiếng loa của sứ giả, tự nhiên thần bật ỉên tiếng nói:

– Mẹ ơi! Mẹ ra mời sứ giả vào đây cho con thưa chuyện.

Mẹ thần ngạc nhiên, mừng rỡ, vội đi mời. Sứ giả vào, thần nói:

– Ngài về tâu với vua, sắm cho ta một con ngựa sắt, một chiếc roi sắt và một bộ giáp sắt. Ta sẽ đánh tan lũ giặc này.

Mừng rỡ, sứ già về tâu vua. Vua cho các thợ ngày đêm làm gấp những thứ thần cần. Cũng từ hôm đó, thần ăn bao nhiêu cũng không no, áo vừa mặc vào đã căng đứt chỉ. Cha mẹ thần không đủ tiền, gạo nuôi thần. Bà con từ khắp nơi đổ về. Người gánh gạo, người gánh cà, người mang vải gom góp lại giúp cha mẹ thần nuôi thần. Ai cũng muốn thần lớn nhanh để đánh giặc.

Rồi một hôm, sứ giả đã đem các thứ thần cần đến. Thần vươn vai biến thành một tráng sĩ khôi ngô tuấn tú, thân hình vạm vỡ, chân tay rắn chắc. Thần mặc áo giáp rồi quỳ xuống từ biệt cha mẹ và bà con xóm làng. Mọi người lưu luyến tiễn đưa thần. Thần cầm roi sắt, nhảy lên mình ngựa. Thần thúc ngựa phi thẳng tới chỗ quân giặc, vung roi sắt xuông đầu bọn chúng. Giặc chết như rạ, tướng giặc túng thế, cưỡi ngựa bỏ chạy. Như rắn mất đầu, quân giặc giẫm đạp lên nhau mà chạy. Thần tiếp tục đuổi giặc, giáng cho chứng những đòn chí mạng. Bỗng roi sắt gẫy, thần bèn nhổ những cụm tre bên đường quật vào giặc. Giặc tan vỡ. Thần đuổi đến chân núi, bèn cởi giáp sắt để lại, cưỡi ngựa sắt bay về trời chờ lệnh của Ngọc Hoàng.

Khi Thánh Gióng kể, Ngọc Hoàng và cả đình thần chăm chú lắng nghe. Nghe xong, Ngọc Hoàng vẻ hài lòng, vuốt râu, phán:

– Khanh thật tài giỏi, đã không phụ lòng trẫm và lòng yêu mến của muôn dân. Khanh đã lập công lớn. Trẫm chuẩn tấu lời thỉnh nguyện của muôn dân, phong cho khanh chức “Phù Đổng Thiên Vương” và cho phép dân Việt hàng năm cứ đến tháng Tư lại mở hội để nhớ mãi chiến công này.

Dứt lời, Ngọc Hoàng cho mang ngọc tửu, đào tiên ban thưởng Thánh Gióng và truyền chư thần, chư tiên chuẩn bị lễ hội mừng công.

 

Vua Hùng kể chuyện Lang Liêu làm bánh chưng

Đề bài:

Vua Hùng kể chuyện Lang Liêu làm bánh chưng.

Bài làm

– Ta là Hùng Vương. Năm nay ta đã già, đã cảm thấy “gần đất xa trời” lắm rồi! Nghĩ đến việc truyền ngôi cho một trong 20 đứa con trai, ta vẫn thấy băn khoăn quá! Ta muốn người kế vị không nhất thiết là con trưởng, nhưng dứt khoát phải nối được chí ta. Bỗng nghĩ ra một kế để thử tài, đức của các hoàng tử, một hôm, ta gọi tất cả hai mươi đứa tới, truyền:

– Sắp đến ngày dâng lễ Tiên vương, các con về sửa soạn lễ vật cho tươm tất nghe! Lang nào có lễ vật khiến ta vừa ý, ta sẽ truyền ngôi cho!

Ta không biết trong những ngày sau đó, 20 đứa con ta chuẩn bị như thế nào, chạy đôn, chạy đáo ra sao? Chỉ biết đến trước lễ trọng một ngày, cả 20 lang đã đều hoàn tất nhiệm vụ. 20 mâm lễ vật được phủ kín bằng vuông lụa điều, trịnh trọng đặt thẳng tắp thành 2 hàng trên dãy sập gụ chạm rồng, nâu bống, chở ta cừng các đại thần kiểm chứng.

Quan cận thần nhẹ nhàng lật từng tấm lụa. Trước mất ta, hết mâm này đến mâm khác, vàng bạc kim cương, trân châu, mã não, cánh kiến đỏ, sừng tê, vẩy tê tê, san hô….lấp lánh, chói rực làm ta hoa cả mắt. Ta cười thầm trong bụng, rằng lũ ngốc này đâu có hiểu ý ta! Khép mi mắt cho đỡ chói, ta bước nhanh qua dãy mâm lễ cuối cùng, từ đó bốc lên mùi thơm vừa tinh khiết, vừa bùi ngậy, quyến rũ, mời gọi kì lạ.

Vua Hùng kể chuyện Lang Liêu làm bánh chưng
Vua Hùng kể chuyện Lang Liêu làm bánh chưng

– Bánh gì thế này? Của lang nào đây? Ta nhìn quanh, hỏi.

– Dạ! Của con ạ! Lời đáp của đứa con út – Lang Liêu, cất lên rụt rè.

– Vì sao con lại chọn dâng lễ vật này? Mau kể tỉ mỉ để ta cùng các quan hiểu rõ?

– Thưa cha! Mẹ con con làm ruộng, nghèo lắm, chẳng sao có được bạc vàng, châu báu như các anh. Con lo quá, chưa biết tính sao, thì đêm nọ, có vị thần hiện lên trong mộng. Người bảo con rằng, trong trời đất, không gì quý bằng lúa gạo. Vậy, con hãy lấy lúa gạo do chính tay con cấy, gặt để làm bánh dâng cúng Tiên vương. Con mừng quá, suốt đêm ấy không ngủ, nghĩ cách làm bánh. Thứ bánh hình tròn như hình mặt trời này là từ gạo nếp ngon, mới, đồ chín giã nhuyễn, trắng mịn. Còn thứ bánh hình vuông, bọc lá dong này, cũng làm từ gạo nếp cái hoa vàng, đãi sạch, gói với nhân đỗ xanh vàng tươi, trong cùng là hai miếng “thịt lợn ba chỉ” tẩm, ướp kỹ bằng hồ tiêu Bắc, nước mắm hảo hạng do con tự làm từ cá sông Hồng. Con đã cho vào nồi đồng lớn, luộc suốt một đêm. Vớt ra, lại ép thật ráo nước, rồi bọc hai tầu lá dong tươi bên ngoài cho đẹp đấy ạ!

– Chà! Con thật thông minh, quả đã hiểu được chí ta, lòng ta! Ta rất vui, rất hài lòng vì lễ vật mộc mạc, giản dị mà nhiều ý nghĩa sâu xa của Lang Liêu. Nhân đây, ta đặt tên cho bánh hình tròn là bánh giầy’, bánh hình vuông là bánh chưng. Lễ vật dâng cúng Tiên vương năm nay, ta chọn bánh chưng, bánh giầy của Lang Liêu. Và như đã truyền, Lang Liêu sẽ là người nối ngôi ta sau khi ta trăm tuổi. Các con và các khanh nghĩ sao?

– Đại vương thật sáng suốt! Chúc Đại vương muôn tuổi! Chúc đất nước Văn Lang ta mãi vững bền!

Tiếng cung chúc râm ran, hoan hỉ vang vang từ sườn núi Nghĩa Lĩnh, toả khắp vùng Phong Châu, Bạch Hạc. Thoáng thây mặt Lang Liêu ửng hồng trong nắng mới mùa xuân.

Lưu ý:

1. Ngôi kể, đặt ở ngôi thứ nhất – vua Hùng.

2. Không được đi quá xa cốt truyện truyền thống.

Tưởng tượng chuyện Lang Liêu làm ra bánh chưng và kể lại

Đề bài:

Tưởng tượng chuyện Lang Liêu làm ra bánh chưng và kể lại.

Bài làm

Tết năm nào nhà em cũng tự gói và nấu bánh chưng. Dù bận rộn đến đâu, cũng không đổi lệ đó, bởi nó đem lại một không khí rộn ràng, bận bịu của ngày tết. Năm ấy đêm 29 tháng chạp, em cùng mấy đứa bạn thức canh nồi bánh chirtig. Đêm đã khuya, mọi vật đều chìm vào im lặng, chỉ còn nghe thấy tiếng nồi bánh chưtig sôi đều, củi cháy đượm, thỉnh thoảng vang lên tiếng nổ lép bép. Em ngồi nhìn bếp lửa đỏ hồng, thả hồn theo những đám sao bay.

Bỗng một tiếng nói rất lạ vang lên sau lưng:

– Chà, vất vả quá nhỉ ?

Em quay lại nhìn, một chàng trai trẻ trạc ngoài hai mươi, tóc búi củ hành, ăn mặc sang trọng nhưng theo lối cũ, chân đi guốc tre, nhìn em mỉm cười. Em tỏ ý ngạc nhiên, định hỏi “Anh là ai?”, thì chàng đã tự giới thiệu:

– “Ta là Lang Liêu, người làm ra bánh chưng cổ truyền, đi tìm hiểu xem dân tình ngày nay còn nấu bánh chiftig để cúng giỗ ngày tết nữa không”.

Em chớp mắt, hỏi:

– “Lang Liêu nào? Lang Liêu thời vua Hùng phải không?”

Chàng tươi cười:

– “Đúng đó ! Chú em còn nhớ tên ta giỏi quá ! ”

Nói rồi, chàng thân mật ngồi xuống cạnh em, trên chiếc ghế con bằng nhựa. Em lấy làm lạ, thời vua Hùng cách đây đã mấy nghìn năm, sao Lang Liêu còn sông mà đến được đây nhỉ? Em đang suy nghĩ thì chàng lại nói:

– “Ta vừa ở chỗ các vua Hùng đến đây. Nghe nói dân tình ngày nay việc nhiều, thời gian ít, lại có nhiều công nghệ mới làm ra các thức “ăn liền”. Ta sỢ bánh chưng không có người làm, bàn thờ gia tiên vắng vẻ, nên mới đi xem xét. Thấy nhà chú em đang nấu, ta vui quá mới ghé xuống thâm. Thế nào, chú em vẫn thích bánh chưng chứ?”.

Em bối rối quá. Đích thị là Lang Liêu thời Hùng Vương rồi!

– “Thưa ngài, thích lắm ạ! Cháu có thể ăn bánh chưng liền mấy ngày tết mà không biết chán ạ ! I

Đúng lắm! Lang Liêu tiếp lời:

– “Trên đời này không có gì quý bằng gạo nuôi sống người. Sơn hào hải vị dù ngon mấy, ăn mãi rồi cũng chán. Duy chỉ có gạo tẻ là ăn mãi không chán thôi! Có đúng thế không?”

– “Thưa ngài, đúng lắm! Nhân ngài đến, xin cho em hỏi: Làm sao mà ngài nghĩ ra được thứ bánh ngon thế? Người ta bảo do ngài nghèo không có điều kiện nên mới nghĩ ra bánh chưng có phải không?”.

Chuyện Lang Liêu làm ra bánh chưng
Chuyện Lang Liêu làm ra bánh chưng

Lang Liêu chau mày, nghĩ ngợi, rồi bảo:

– “Sự thực ta nghèo hơn các anh ta, nhưng không phải chỉ vì nghèo đâu. Ta nghèo tiền của thật, nhưng giàu lòng với thóc gạo. Nhiều người chuộng lạ, bỏ quen, tham xa, bỏ gần, mà không biết biến cái quen thành cái lạ, lại có ý nghĩa nữa”.

Thấy Lang Liêu tỏ ra cỡi mở, dẽ gần, em mới đánh bạo hỏi thêm:

– “Thấy sách chép, bánh này cũng không phải do ngài nghĩ ra, mà do thần mách?”

Lang Liêu hơi đỏ mặt:

– “Nhưng ta cũng phải suy nghĩ lao tâm khổ tứ, quẽn ăn, mất ngủ suốt nửa năm trời, rồi thần mới mách cho. Chứ những kẻ lười biếng, động một tí là vung tiền ra mua, cho gia nhân đi tìm kiếm, thì thần có giúp gì đâu! ”

Đúng thật! Em nghĩ thầm, đang định hỏi thêm câu nữa, thì bỗng có ai nói to:

“Thêm nước vào đi, nước cạn hết rồi!”.

…. Thì ra là một giấc mơ…..!

Nhìn nồi bánh chưng bốc hơi thơm phức, em lại nghĩ đến Lang Liêu. Tai em còn văng vẳng lời trò chuyện vừa rồi. Em nghĩ, Lang Liêu sâu sắc thực. Phải có tình cảm sâu nặng với sản vật nước nhà mới tạo ra được món ăn có giá trị lâu dài như thế chứ!

Lưu ý:

1. Dù là kể chuyện tưởng tượng, sáng tạo nhưng vẫn phải “tôn trọng cốt truyện” mà người xưa đã kể. Ở đây, cần có các sự việc và chi tiết: Lang Liêu nghèo, làm nghề nông, gắn bó với hạt gạo, lại được thần mách bảo nên đã sáng tạo ra hai loại bánh ngon cho dân tộc (ở đề này, chỉ nói đến bánh chưng).

2. Phần tưởng tượng, sáng tạo nhằm làm cho câu chuyện thêm thú vị và ý nghĩa thêm nổi bật: Đó là việc tạo ra “một giấc mơ trò chuyện vơi Lang Liêu, trong một đêm giáp tết, ngồi nấu bánh chiủig, bên bếp lửa đỏ hồng, ấm áp”. Cảnh gặp gỡ này phải có sự hài hòa, đan xen giữa khung cảnh hiện tại hôm nay với nét dân gian xa xưa trong truyện cổ thời Hùng Vương dựng nước (qua hình ảnh, ngôn ngữ của nhân vật). Có như thế thì giấc mơ mới đưa người đọc về với câu chuyện xưa một cách thú vị.

Kể chuyện Vua Hùng thứ nhất kể về nguồn gốc của mình

Đề bài:

Vua Hùng thứ nhất kể về nguồn gốc của mình cho các con nghe. Em hãy viết lại lời kể đó.

Bài làm

Hỡi các con! Nay các con đã lớn, các con cần phải biết rõ gốc tích của mình. Vậy cha sẽ kể cho các con nghe.

Cha ta xưa, tức là ông nội của các con, vốn là một vị thần thuộc nòi Rồng, con trai thần Long Nữ, tên là Lạc Long Quân. Ông nội các con thường ở dưới nước, thỉnh thoảng lên sông trên cạn, có nhiều phép lạ, sức khoẻ vô địch. Thuở ấy, miền Lạc Việt ta có nhiều yêu quái làm hại dân lành. Cha ta giúp dân diệt trừ Ngư Tinh, Mộc Tinh, Hồ Tinh, lại dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi và cách ăn ở. Người thường về thuỷ cung ở với mẹ. Khi cần thiết, người mới hiện lên.

Một lần, tình cờ cha gặp mẹ ta, tức bà nội của các con. Mẹ ta vốn là người ở vùng núi cao phương Bắc, tên là Âu Cơ, thuộc dòng họ Thần Nông, xinh đẹp tuyệt trần, nghe tiếng vùng ta có nhiều hoa thơm cỏ lạ bèn tìm đến thăm. Mẹ cha ta gặp gỡ, đem lòng yêu thương nhau rồi trở thành vợ chồng, sống với nhau trên cạn, ở cung điện Long Trang.

Vua Hùng kể chuyện nguồn gốc
Vua Hùng kể chuyện nguồn gốc

 

ít lâu sau, mẹ ta có thai rồi sinh nở. Chuyện lạ lùng thay là mẹ sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con. Trăm anh em ta hồng hào đẹp đẽ, lớn lên như thổi, ai cũng khôi ngô, khoẻ mạnh. Ta nở ra từ quả trứng đầu tiên, được gọi ỉà anh cả.

Một hôm, cha vốn quen sông dưới nước, thấy mình không thể sống mãi trên cạn, bèn từ biệt mẹ để về thuỷ cung. Mẹ ta nuôi con, mong chờ mãi mà không thây cha trở lại. Cuối cùng mẹ phải gọi cha về. Mẹ than thở:

– Sao chàng bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi đàn con nhỏ ?

– Ta vốn nòi Rồng, miền nước thẳm. Nàng là dòng tiên trốn non cao. Ta với nàng tính tình, tập quán khác nhau, khó mà ăn I cùng nhau một nơi lâu dài được Nay ta đưa năm mươi con xuông biển, nàng đưa năm mươi con lên núi,chia nhau cai quản các phương. Tuy kẻ miền núi, người miền biển, nhưng khi có việc phải giúp đỡ lẫn nhau, chớ quên lời hẹn.

Thế là cha mẹ và anh em ta chia tay nhau lên đường.

Lên làm vua, ta lấy hiệu Hùng Vương, đóng đô ở Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang. Triều đình ta có quan văn, quan võ. Còn các con, con ưai thì gọi là quan lang, con gái thì gọi là mị nương. Bao giờ hết đời ta thì con trưởng sẽ thay ta làm vua, cũng lấy hiệu là Hùng Vương, cho đến đời con, đời cháu, chắc các con cũng thế, không được thay đổi.

Các con! Đến đời con, cháu sau này, hàng ưăm, nghìn năm sau, cũng phải nhắc nhau biết mình là con Rồng, cháu Tiên, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau khi hoạn nạn, làm cho nước nhà ngày càng phồn vinh, hùng cường.

Lưu ý:

1. Kiểu bài kể chuyện sáng tạo, người kể là một nhân vật phụ trong truyện, như là chứng nhân của câu chuyện về nguồn gốc dân tộc: Hùng Vương thứ nhất (tức người con trưởng được tôn lên làm vua).

2. Dù là kể chuyện sáng tạo, nhưng người kể vẫn phải tôn trọng cối truyện với những diễn biến chính của sự việc và nhân vật. Phần sáng tạo ở đây chủ yếu là cách kể của người kể ở ngôi thứ nhất, ở quan hệ giữa người kể và người nghe là quan hệ cha – con trong quan hệ vua – tôi, vừa ruột thịt, thân thương, lại vừa trang nghiêm, thiêng liêng.

Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong truyện Vợ nhặt

Đề bài: Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong truyện Vợ nhặt
Kim Lân thuộc hàng những cây bút truyện ngắn tài năng của văn học Việt Nam hiện đại. Ông thường viết về nông thôn và những con người dân quê , lam lũ hồn hậu , chất phác mà giàu tình yêu thương . Vợ nhặt là một trong những sáng tác tiêu biểu của ông . Tác phẩm đã khắc hoạ tình cảnh thê thảm của nhân dân ta trong nạn đói năm 1945 đồng thời khẳng định , ca ngợi tình yêu thương , đùm bọc , khát khao hạnh phúc , hướng đến tương lai của những người dân lao động . Trong đó nhân vật bà cụ Tứ được nhà văn khắc hoạ rất sinh động , tinh tế , là một người mẹ nghèo khổ , trải đời , giàu tình yêu thương và có nội tâm phong phú , phức tạp .

Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong truyện Vợ nhặt
Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong truyện Vợ nhặt

Kim Lân rất am hiểu nông thôn và đời sống của nhân dân nên ông có những trang viết sâu sắc, cảm động. Truyện Vợ nhặt rút từ tập Con chó xấu xí) được coi là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân. Thiên truyện có một quá trình sáng tác khá dài. Nó vốn được rút ra từ tiểu thuyết Xóm ngụ cư (cuốn tiểu thuyết viết dang dở ở thời kì trước Cách mạng). Hoà bình lập lại, Kim Lân viết lại. Vợ nhặt mang dấu ấn của cả một quá trình nghiền ngẫm lâu dài về nội dung và chiêm nghiệm kĩ lưỡng về nghệ thuật.

Tác phẩm đã tái hiện lại bối cảnh ngày đói vô cùng thê thảm ở nông thôn Việt Nam do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra năm 1945 . Ông đặc tả chân dung người năm đói “khuôn mặt hốc hác u tối”, “Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma”, và “bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma”. Trong không gian của thế giới ngổn ngang người sống kẻ chết ấy, tiếng quạ “gào lên từng hồi thê thiết” cùng với “mùi gây của xác người” . Nhưng quan trọng hơn, bên cạnh mảng tối của bức tranh hiện thực buồn đau là mảng sáng của tình người , của một chủ nghĩa nhân văn tha thiết, cảm động.

Trong truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân bộc lộ một quan điểm nhân đạo sâu sắc của mình. Nhà văn phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của người lao động trong sự túng đói quay quắt, trong bất kì hoàn cảnh khốn khổ nào, con người vẫn vượt lên cái chết, hướng về cuộc sống gia đình, vẫn yêu thương nhau và hi vọng vào ngày mai.

Thể hiện sâu sắc cho tư tưởng ấy là chân dung tính cách , tâm lý của bà cụ Tứ trước tình huống bất ngờ : con trai mình đột ngột có vợ .

Tâm lí ở cụ Tứ có phần phức tạp , với những nỗi niềm trắc ẩn trong chiều sâu riêng của người già từng trải và nhân hậu.

Khởi đầu tâm lí ở bà cụ Tứ là ngỡ ngàng trước một sự việc dường như không hiểu được. Cô gái xuất hiện trong nhà bà phút đầu là một hiện tượng lạ. Trạng thái ngỡ ngàng của bà cụ Tứ được khơi sâu bởi hàng loạt những câu hỏi nghi vấn: “Quái sao lại có người đàn bà nào ở trong nhà ấy nhỉ ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình thế kia? Sao lại chào mình bằng u? Không phải con cái Đục mà. Ai thế nhỉ?” Rồi lại:”Ô hay, thế là thế nào nhỉ?”. Sự ngạc nhiên này thể hiện nỗi đau của người viết: chính là sự cùng quẩn của hoàn cảnh đánh mất ở người mẹ sự nhạy cảm trước việc con trai yêu quý của mình có vợ .

Sau khi hiểu ra mọi chuyện, bà lão”cúi đầu nín lặng”. Sự nín lặng đầy nội tâm. Đó là nỗi niềm xót xa, lo, thương trộn lẫn . Tình thương của bà mẹ nhân hậu mới bao dung làm sao: “… chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?”. Trong chữ “chúng nó” người mẹ đã đi từ lòng thương con trai sang con dâu. Trong chữ cúi đầu, bà mẹ tiếp nhận hạnh phúc của con bằng kinh nghiệm sống, bằng sự trả giá của một chuỗi đời nặng nhọc, bằng ý thức sâu sắc trước hoàn cảnh.

Rồi tình thương lại chìm vào nỗi lo, tạo thành một trạng thái tâm lí triền miên day dứt. Bà mẹ: nghĩ đến bổn phận làm mẹ chưa tròn, nghĩ đến ông lão, đến con gái út, nghĩ đến nỗi khổ đời của mình, nghĩ đến tương lai của con…, để cuối cùng dồn tụ bao lo lắng, yêu thương trong một câu nói giản dị:”chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…” Trên ngổn ngang những nỗi buồn lo, niềm vui của mẹ vẫn cố ánh lên. Cảm động thay, Kim Lân lại để cái ánh sáng kỳ diệu đó tỏa ra từ… nồi cháo cám. Hãy nghe người mẹ nói: “chè đây – Bà lão múc ra một bát – chè khoán đây, ngon đáo để cơ”. Chữ “ngon”này cần phải cảm thụ một cách đặc biệt. Đó không phải là xúc cảm về vật chất, (xúc cảm về cháo cám) mà là xúc cảm về tinh thần: ở người mẹ, niềm tin về hạnh phúc của con biến đắng chát thành ngọt ngào. Chọn hình ảnh nồi cháo cám, Kim Lân muốn chính mình cho cái chất người: trong bất kỳ hoàn cảnh nào, tình nghĩa và hi vọng không thể bị tiêu diệt, con người muốn sống cho ra sống, và cái chất người thể hiện ở cách sống tình nghĩa và hi vọng. Nhưng Kim Lân không phải là nhà văn lãng mạn. Niềm vui của cụ Tứ vẫn cứ là niềm vui tội nghiệp, bởi thực tại vẫn nghiệt ngã với miếng cháo cám “đắng chát và nghẹn bứ”.

Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân , là tác phẩm giàu giá trị hiện thực , nhân đạo ; là bài ca về tình người ở những người nghèo khổ , ca ngợi niềm tin bất diệt vào tương lai tươi sáng của con người . Truyện xây dựng thành công hình tượng nhân vật bà cụ Tứ , một người mẹ nghèo khổ mà ấm áp tình thương , niềm hi vọng , lạc quan qua cách dựng tình huống truyện và dẫn truyện độc đáo, nhất là ngòi bút miêu tả tâm lí tinh tế, khiến tác phẩm mang chất thơ cảm động và hấp dẫn.